Tìm kiếm nhanh:

Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Ngày đăng: 14-12-2012
 
 
 Hành vi phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, được quy định tại Điều 96 của Bộ luật hình sư như sau: " Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. 2. Giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm”. Tội phạm này xâm phạm quyền sống của người khác. Đồng thời nó cũng xâm phạm quyền phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 15 của Bộ luật hình sự.
 
Tội phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thể hiện ở hành vi tước bỏ quyền sống của người khác mà người đó đang có hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của người phạm tội hoặc của người khác. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải thỏa mãn bốn dấu hiệu cơ bản sau:
 
- Hành vi của nạn nhân là hành vi phạm tội hoặc là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của người phạm tộ hoặc của người khác;
 
- Hậu quả xảy ra là nạn nhân bị chết. Nạn nhân chính là người có hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của người phạm tội hoặc của người khác;
 
- Hành vi phòng vệ (tấn công trở lại) của người phạm tội không tương xứng với hành vi xâm hại của nạn nhân, tức là quá mức cần thiết gây ra cái chết của nạn nhân. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi chống trả gây chết người đều không coi là phòng vệ chính đáng, mà phải xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay không? Để đánh giá mức độ tương xứng củ hành vi chống trả, cần dựa vào các tình tiết như: tính chất quan trọng của lợi ích bị xâm phạm; tính chất, mức độ nguy hiểm, cường hộ của hành vi xâm hại và hành vi chống trả; sự tương quan sức lực giữa bên xâm hại và bên chống trả…
 
Nếu hành vi chống trả quá mức cần thiết so với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, chưa cần thiết phải dùng các phương tiện và phương pháp đó để chống trả, do đó gây chết người thì người chống trả phải chị trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ví dụ, do mâu thuẫn nên A và B đánh nhau. A cầm dao đuổi theo chém B; B đã nhặt được chiếc gậy vụt ngay vào chân A làm A ngã khuỵu xuống, rơi dao ra, sau đó B xông lại dùng gậy vụt tới tấp vào đầu, vào mình A làm cho A ngất xỉu, đưa đến bệnh viện cấp cứu thì A bị chết. Nếu B dừng lại ở thời điểm A ngã khuỵu xuống, rơi dao ra thì là phòng vệ chính đáng. Nhưng B lại có hành động tiếp theo nên đã làm cho A chết, vì vậy B phạm tội giết người do vượt qua giới hạn phòng vệ chính đáng.
 
Tội phạm được thực hiện do cố ý, động cơ phạm tội là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. 
 
Hình phạt tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo điều 96 của Bộ luật hình sự như sau:
 
- Khung 1: quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
 
- Khung 2: quy định hình phạt tù từ hai năm đến năm năm áp dụng đối với trường hợp giết nhiều người (từ hai ngươi trở lên). 
 
Các lưu ý khác:
 
- Hành vi chống trả lại người đang có hành vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác đã làm cho người này chết nhưng xét tổng thể các yếu tố thì hành vi chống trả này không quá mức thì dù nạn nhân có bị chết, người có hành vi chống trả đó cũng không phạm tội. 
 
-Nếu hành vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của người phạm tội hoặc của người khác vừa mới chấm dứt và không còn nguy cơ tiếp diễn nữa nhưng người phạm tội vẫn có hành vi chống trả làm cho nạn nhân bị chết hoặc trường hợp hành vi xâm hại của nạn nhân đã kết thúc nhưng người phạm tội nhầm tưởng hành vi đó vẫn còn tiếp diễn nên đã có hành vi tấn công làm nạn nhân chết thì phạm tội giết người theo quy định tại điều 93 của Bộ luật hình sự.
 
 
 

Tin liên quan

Thay đổi người tiến hành tố tụng hình sự
Ngày đăng: 27-11-2012
Luật sư có thể tham gia tố tụng từ giai đoạn khởi tố bị can và có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các trường hợp người tiến hành tố tụng bị buộc phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
Thời hạn điều tra vụ án hình sự
Ngày đăng: 27-11-2012
Thời hạn điều tra vụ án hình sự được quy định cụ thể tại Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự.
Thủ tục tạm hoãn chấp hành hình phạt
Ngày đăng: 27-11-2012
Khi thuộc đối tượng được tại ngoại theo quy định của Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể đề nghị tạm hoãn chấp hành hình phạt tù theo trình tự sau đây:
Thủ tục xóa án tích
Ngày đăng: 28-11-2012
Theo quy định tại các Điều 63, 64, 65, 66, 67 Bộ luật hình sự, người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận hoặc ra Quyết định xóa án tích trong những trường hợp sau đây:
.
.
.
.