Tìm kiếm nhanh:

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Ngày đăng: 18-12-2012

- Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 
- GCNQSDĐ tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho QSDĐ hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất. Giấy tờ chuyển nhượng QSDĐ, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993.
 
- Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất, bản án hoặc quyết định của TAND, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hànhvà tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. 
 
Ngoài ra theo Thông tư liên tịch 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC, ngày 03-01-2002 hướng dẫn về thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến QSDĐ, đối với trường hợp đất đã có GCNQSDĐ, các tranh chấp liên quan đến QSDĐ, gồm: Tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ; thừa kế QSDĐ; thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị QSDĐ; tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất, đều thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND.
 
2. Giải quyết thuộc thẩm quyền của UBND: Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ nêu trên.
 
- UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) tổ chức hòa giải theo quy định tại Điều 135 của Luật Đất đai năm 2003. Sau khi UBND cấp xã tổ chức hòa giải nhưng kết quả không thành, các bên tranh chấp gửi đơn đến TAND để được giải quyết.
 
- Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng
 
- Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng
 

Tin liên quan

Giải quyết về tranh chấp, khiếu nại đất đai
Ngày đăng: 21-11-2012
1. Điều kiện khi giải quyết khiếu kiện về đất đai :    - Người khiếu nại phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình khiếu nại.
Đơn khởi kiện dân sự
Ngày đăng: 26-11-2012
Khi tiến  hành khởi kiện vụ án dân sự, người khởi kiện phải soạn thảo đơn khởi kiện, lập hồ sơ khởi kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Thủ tục yêu cầu tuyên bố một người đã chết
Ngày đăng: 27-11-2012
Người có quyền và lợi ích có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người đã chết, theo quy đinh của bộ luật dân sự, cụ thể như sau
Thủ tục kháng cáo bản án, quyết định dân sự
Ngày đăng: 28-11-2012
Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo. Vì thế khi tiến hành kháng cáo, cần phân biệt những người có quyền kháng cáo bản án, quyết định dân sự.
.
.
.
.